
- Nhà xuất bản: Thanh Hóa – 2020
- Số trang: 212 tr
- Khổ sách: 21 x 29,7cm
Thanh Hóa, nơi sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa làm rạng danh quê hương, đất nước. Trải qua thời gian, lịch sử đã để lại cho vùng đất này những di sản văn hóa vô cùng phong phú, đặc sắc, tiêu biểu là bộ sưu tập sắc phong đang được lưu giữ, bảo quản, trưng bày phát huy giá trị tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.
Sắc phong, sắc chỉ là văn bản của Nhà nước, do các vị vua ban tặng. Sắc phong có hai loại: sắc phong cho các vị thần và sắc phong chức tước cho các quan lại, quý tộc, người có công với triều đình hay cộng đồng.
Sắc phong thần là những sắc phong gìn giữ bảo quản trong các đình đền, miếu … dung để xác nhận việc phong thần cho các vị thần được thờ cúng trong các đình làng, đền, miếu (Thành hoàng …). Các vị thần được phong tặng có thể là thiên thần hay nhân thần. Thiên thần là những vị thần có nguồn gốc trong tín ngưỡng dân gian những nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên… Nhân thần là những nhân vật lịch sử cụ thể có công với nước chống giặc ngoại xâm, danh nhân văn hóa nhưng cũng có thể là người dân bình thường nhưng có công khai hoang lập làng…. gắn liền với lịch sử làng xã.
Sắc phong chức tước là loại sắc phong do nhà vua các triều đại phong kiến dung để phong chức tước cho các quan lại, quý tộc, người có công… Loại này không còn nhiều và thường do các gia đình, dòng họ lưu giữ nên ít được công chúng biết đến. Riêng loại sắc phong nội dung này ở Thanh Hóa lại khá phong phú, bởi nơi đây có nhiều công thần của các triều đại phong kiến khác nhau trong lịch sử dân tộc.
Tập sách là nguồn tư liệu phong phú, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa của tỉnh Thanh Hóa.

- Năm xuất bản: 2022
- Số trang: 434
Ngoài phần Lời nói đầu, cuốn sách được kết cấu thành 4 phần chính:
Phần I. Bản chất và đặc trưng của phương pháp nghiên cứu định tính
Phần này, nhóm tác giả làm rõ bản chất của nghiên cứu định tính và định lượng thông qua một số tiêu chí sau: (i) Khái niệm; (ii) Các mối quan tâm của nghiên cứu định tính/định lượng; (iii) Một số phương pháp thu thập thông tin cơ bản; (iv) Một số hạn chế của nghiên cứu; (v) Một số lỗi thường gặp. Trên cơ sở đó, nhận diện sự khác biệt chủ yếu giữa nghiên cứu định lượng và định tính; đề xuất phương thức lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp và sự kết hợp giữa hai phương pháp nghiên cứu trên. Nhóm tác giả khẳng định, mỗi loại phương pháp có thế mạnh riêng và những hạn chế nhất định. Trong thực tế, nhà nghiên cứu cần phải căn cứ vào mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và thế mạnh của các nhân đề lựa chọn loại hình phương pháp phù hợp để từ đó đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất.
Phần II. Thiết kế nghiên cứu định lượng và định tính
Tập trung trình bày mục đích và đặc điểm một số loại thiết kế nghiên cứu: (i) Thiết kế mô tả; (ii) Thiết kế nhân quả; (iii) Thiết kế khám phá/thăm dò; (iv) Thiết kế lịch sử; (v) Thiết kế so sánh theo không gian và theo thời gian; (vi) Thiết kế phân tích siêu dữ liệu; (vii) Thiết kế nghiên cứu hành động; (viii) Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Nhóm tác giả cho rằng, đối với nhà nghiên cứu lành nghề, ý tưởng nghiên cứu có thể đến một cách tự nhiên và để có một ý tưởng hoàn chỉnh cần trải qua nhiều bước khác nhau trước khi đưa ra các câu hỏi nghiên cứu. Về bản chất, câu hỏi nghiên cứu la fnooij dung cơ bản của nghiên cứu được cụ thể hóa dưới dạng câu hỏi. Câu hỏi nghiên cứu khác với câu hỏi thông thường ở chỗ nó đòi hỏi câu trả lời phải có đầy đủ các bằng chứng khoa học và phải thông qua một quá trình nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu phản ánh mối quan tâm của nhà nghiên cứu. Chúng làm nên nội dung nghiên cứu của đề tài
Phần III. Thu thập thông tin định lượng và định tính
Để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, toàn diện và chính xác, đặc biệt đảm bảo tính khách quan cho hoạt động nghiên cứu, nhóm tác giả tập trung phân tích và hướng dẫn người nghiên cứu các cách thức thu thập thông tin: (i) Thu thập thông tin thứ cấp; (ii) Thu thập thông tin qua bảng hỏi; (iii) Thu thập thông tin định tính. Trong giai đoạn thực hành nghiên cứu xã hội tại thức địa, nhóm tác giả đưa ra một số lưu ý về đạo đức nghiên cứu trong tổ chức thu thập dữ liệu, trong đó có vấn đề bảo mật dữ liệu thu thập được.
Phần IV. Phân tích thông tin định lượng và định tính
Về phân tích thông tin định lượng, nhóm tác giả đưa ra một số khái niệm cơ bản và hướng dẫn cách so sánh trung bình hai mẫu độc lập và so sánh trung bình nhiều mẫu. Việc so sánh sự khác biệt giữa các nhóm khác nhau giúp làm rõ hiện trạng của vấn đề nghiên cứu; Hướng dẫn một số phương pháp phân tích như: Phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính, phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Trong quá trình phân tích thông tin định lượng, người nghiên cứu cần lưu ý một số điểm sau: thứ nhất, sử dụng thông tin định lượng trong nghiên cứu xã hội không thể tách rời toàn bộ quá trình nghiên cứu đinh lượng; thứ hai, sử dụng thông tin định lượng phải dựa trên khung lý thuyết và các giả thuyết; thứ ba, sử dụng thông tin định lượng cần bắt đầu bằng việc xử lý/ đánh giá mức độ nhất quán, độ tin cậy và tính có hiệu lực của thông tin…
Về phân tích định tính, nhóm tác giả đưa ra một số khái niệm cơ bản và chỉ ra cách xử lý thông tin khi có nguồn dữ liệu đầu vào như tài liệu ghi chép, băng ghi âm, tranh ảnh và hiện vật. Điểm nhấn của phần này là làm rõ các bước trong quá trình phân tích tư liệu văn bản: (i) Phân tích trên thực địa và quản lý dữ liệu; (ii) Mã hóa và ghi nhớ, việc này nhằm rút gọn dữ liệu để có thể dễ dàng phân tích chứ không được làm cho dữ liệu trở nên kềnh càng hơn; (iii) Tìm kiếm mô hình; (iv) Trình bày dữ liệu, rút ra kết luận và kiểm tra.
Xin trân trọng giới thiệu!

- Người dịch: Phạm Văn Tuân
- Nhà xb: Dân Trí, 2019
- Khổ: 14 x 20,5
- Số trang: 164tr
Sau cuộc xâm lăng bằng súng ống, cuối thế kỳ 19, đầu thế kỷ 20, người Pháp bắt đầu chọn cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn với mảnh đất An Nam khi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu văn hóa. Nhiều tác phẩm đã được ra đời ở giai đoạn này, khi họ khám phá đất nước chúng ta từ mọi phương diện: từ địa lý, môi trường tự nhiên, cảnh quan, đến cấu trúc xã hội, lịch sử, nghệ thuật, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm lý,... Trong đó, Làng Xã Của Người An Nam Ở Bắc Kỳ là một nguồn tư liệu thú vị, khá đủ đầy. Đời sống tinh thần phong phú của người Việt xưa với các lễ hội, tín ngưỡng, thủ tục ma chay, cưới hỏi được đề cập sâu sát. Mọi khía cạnh của lãng xã ở Bắc Kỳ đều được miêu tả sắc bén: từ lịch sử hình thành, tổ chức hành chính, phân chia quyền lực cho đến hiện trạng xã hội, các vấn đề quan trọng của làng xã như đất đai, sở hữu, thuế. Trích đoạn Paul Ory nhận xét về nạn tham quan nhũng nhiễu: “Không có nơi nào mà quyền lực vượt trên cả pháp luật như ở nơi đây: chỉ cần lưu tâm tới vụ việc, bằng vài món quà biếu xén là đủ khiến kẻ nghèo hèn và người yếu thế trở thành kẻ phạm tội, bất chấp công lý”. Làng xã tuy là đơn vị hành chính thấp và nhỏ nhất về quy mô nhưng lại chứa đựng những giá trị tinh thần lớn lao, là tinh hoa của nhiều thế hệ người Việt, ẩn chứa trong đó cả sự phức tạp mà đôi khi người bản địa cũng không nắm bắt hết. Để có thể đi sâu vào văn hóa An Nam thời điểm đó, tác giả Paul Ory đã bỏ công sức học tiếng Việt, đi đến nhiều vùng quê, làng xã xa xôi, nhất là khu vực Bắc Kỳ xưa để có được cái nhìn khái quát, nhận định chi tiết nhất. Cuốn sách có tên tiếng Pháp là La commune Annamite au Tonkin, được xuất bản lần đầu tại Paris năm 1894 và từng được hai học giả Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh xếp vào thư mục tham khảo của mình vào cuối thập niên 1930.
(Tống Trung Tín, Bùi Văn Sơn, Khảo cổ học số 5/2023)
Bối cảnh lịch sử có sự tác động đến kiến trúc Champa trong từng thời kỳ khác nhau. Với quy mô kiến trúc to lớn, trang trí mỹ thuật đẹp, được xây dựng tại cửa ngõ kinh đô Vijaya, đã phần nào phản ảnh lịch sử Vijaya thời kỳ này, đây là thời kỳ ổn định về xã hội, kinh tế phát triển, tạo nên sức sống mới sau những biến động lịch sử. Như phần trên đã trình bày, có thể tháp Xuân Mỹ được xây dựng dưới triều vua Jaya Harivarman I. Ông là vị vua đã đưa vương quốc Champa phát triển hùng mạnh với nhiều chiến công như đẩy lùi cuộc tấn công của quân Khmer vào Vijaya vào năm 1149 và sự can thiệp của Đại Việt ở phía bắc năm 1150. Để củng cố vương quyền và sự thống nhất trên toàn lãnh thổ vương quốc Champa, vua Jaya Harivarman I đã đem quân dẹp tan các cuộc nổi loạn của tiểu quốc Amaravarti năm 1151 và tiểu quốc Panduranga năm 1160, được công nhận là người cai trị toàn cõi vương quốc Champa. Sau những chiến thắng, ông đã cho xây dựng rất nhiều ngôi tháp trên khắp lãnh thổ Champa như tại tháp G trong thánh địa Mỹ Sơn, mà bia ký G5 có ghi lại và tại tháp Po Nagar, hai thánh địa lớn nhất phía Bắc và phía Nam của vương quốc Champa (Maspero 2020: 252-253).
Những mảnh gốm sứ có nguồn gốc từ Đại Việt và Trung Hoa được sử dụng phục vụ trong công trình tôn giáo Champa, cũng phản ánh quá trình giao thương buôn bán diễn ra giữa vương quốc Champa với các quốc gia lân cận.Vương quốc Champa có vị trí địa lý nằm trên tuyến đường giao thương đông - tây, chính vì vậy có điều kiện tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài. Phế tích tháp Xuân Mỹ được xây dựng theo truyền thống kế thừa tinh hoa nghệ thuật kiến trúc tháp Champa, đó là sử dụng chất liệu gạch, kết hợp vật liệu xây dựng mới ảnh hưởng từ văn hóa Khmer đó là đá ong. Quá trình khai quật phát hiện một số hiện vật trang trí kiến trúc có khắc chữ Hán, phản ánh sự giao lưu giữa văn hóa Champa với văn hóa Đại Việt hoặc Trung Hoa xa hơn là Khmer. Đó là những minh chứng cho mối quan hệ mở rộng đa chiều giữa vùng đất Vijaya với các nền văn hóa bên ngoài, tiếp thu có chọn lọn làm giàu bản sắc văn hóa Champa trong lịch sử.
(Hoàng Như Khoa, Khảo cổ học số 2/2024)
(Phạm Thanh Sơn, Khảo cổ học số 1/2024)
- Tác giả :TS.Trần Thị Phương Hoa (Chủ biên), Viện sử học
- Năm xuất bản: 2023
- Số trang: 432tr
Cuốn sách được phát triển từ đề tài nằm trong hệ đề tài nghiên cứu cấp Bộ về Nông thôn Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại do Viện Sử học triển khai từ năm 2013. Hệ đề tài nghiên cứu Nông thôn Việt Nam sẽ góp phần nhận diện đầy đủ hơn về diện mạo làng xã, hình thức quần cư, cộng cư, thiết chế chính trị - xã hội làng xã; kết cấu kinh tế truyền thống; quá trình thiên di, di dân; các mối quan hệ họ hàng – làng – nước ở nông thôn… và vai trò của nông thôn, làng xã trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nội dung khoa học của đề tài góp phần tư vấn cho các nhà quản lý hoạch định những chính sách phù hợp đối với nông thôn, nông dân qua những kinh nghiệm lịch sử, như chính sách về đất đai, thuế khóa, về xây dựng thiết chế làng xã, về việc kết hợp các yếu tố pháp luật với luật lệ làng xã khi xử lý, giải quyết các vụ việc liên quan đến người dân… Đặc biệt, nội dung nghiên cứu của đề tài có thể góp phần cung cấp kinh nghiệm lịch sử trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Đầu thế kỷ XX, nông thôn Việt Nam, trong đó nông thôn Trung Kỳ đã nằm trong chủ trương khai thác thuộc địa của chính quyền thực dân Pháp vì đây chính là nơi sản sinh ra các nguồn lực chủ yếu của thuộc địa như đất đai, thuế, nông sản phẩm, nguồn nhân lực. Việc phân chia Việt Nam ra làm ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ và quá trình thiết lập hệ thống quản lý hành chính, kinh tế và xã hội ở những xứ này là một phần quan trọng trong hoạt động khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam.
Nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài cho thấy Trung Kỳ là xứ có điều kiện tự nhiên đang dạng nhất Đông Dương, cùng với đó là sự phức tạp được hiện diện ở nhiều mặt như địa lý, lịch sử, thể chế chính trị. Chính những yếu tố này có những tác động nhất định đến nông thôn Trung Kỳ dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Để làm rõ vấn đề này, năm 2023, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn sách “Nông thôn Trung Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945” do TS. Trần Thị Phương Hoa làm chủ biên.
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, nội dung chính của cuốn sách được thể hiện qua 3 chương:
Chương 1. Tổ chức, quản lý làng xã nông thôn Trung Kỳ thời Pháp thuộc
Chương 2. Kinh tế nông thôn Trung Kỳ dười thời Pháp thuộc
Chương 3. Văn hóa – xã hội nông thôn Trung Kỳ thời Pháp thuộc
Cầm cuốn sách trên tay, độc giả được tiếp cận một lượng lớn tài liệu sơ cấp và thứ cấp qua đó hiểu rõ phần nào sự thay đổi diện mạo nông thôn Trung Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945. Phân tích nông thôn Trung Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945 trên các bình diện, nhóm nghiên cứu khẳng định, thay đổi lớn nhất ở nông thôn Trung Kỳ thời Pháp thuộc là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền làng xã được tăng cường; cơ sở hạ tầng đường sá, cầu cống được xây dựng, kết nối nông thôn với thành thị và giữa các vùng nông thôn với nhau. Tuy nhiên, đời sống người dân dường như không có thay đổi gì rõ rệt nếu không muốn nói tình trạng nghèo đói và bần cùng hóa có xu hướng tăng cao. Mâu thuẫn xã hội trong làng ngày càng thêm căng thẳng khi làng xã là nơi cung cấp nguồn nhân lực cũng như vật lực chủ yếu, quan trọng nhất cho chính quyền trung ương. Trong khi đó, người nông dân bị bần cùng hóa, bị bóc lột. Căng thẳng xã hội đã dẫn đến những phản kháng. Trên thực tế, các cuộc đấu tranh phần nhiều xuất phát từ nông thôn, kể từ phong trào Văn thân – Cần Vương, đến phong trào Duy Tân và sau này là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh đều lấy nông thôn, làng xã là nơi khởi phát và địa bàn hoạt động. Nhằm xoa dịu người dân, chính quyền thực dân đã thực thi một số chính sách đầu tư cho nông thôn nhưng sản xuất nông nghiệp đình đốn, suy thoái, đời sống người dân bấp bênh, kiệt quệ...
Xin trân trọng giới thiệu!
- Tác giả: Viện KHXH vùng Nam Bộ
- Năm xuất bản: 2023
- Nhà xb:Lao Động
- Số trang: 500
Vùng Nam Bộ là một vùng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Việt Nam. Vùng bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (Đồng Bằng Sông Cửu Long) bao gồm 19 tỉnh (trong đó có 2 thành phố lớn trực thuộc Trung ương là Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ) với nhiều tiềm năng trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng quan trọng của đất nước. Những năm trở lại đây, thực tiễn sự phát triển của đất nước cho thấy những đóng góp lớn ở nhiều lĩnh vực có đóng góp nhiều nhất đươc đến từ vùng Nam Bộ. Riêng Đông Nam Bộ với đầu tàu kinh tế là Thành phố Hồ Chí Minh và tam giác phát triển: Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa -Vũng Tàu tạo ra một vùng kinh tế năng động bậc nhất của Việt Nam và đóng góp kinh tế lớn nhất cả nước. Theo thống kê năm 2020, vùng Đông Nam Bộ đã đóng góp 32% GDP của cả nước, 44,7% tổng thu ngân sách nhà nước. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 cao nhất cả nước. Bên cạnh đó, Đồng Bằng sông Cửu Long, được mệnh danh là thủ phủ của xuất khẩu nông sản của Việt Nam với nhiều sản phẩm có quy mô sản xuất khẩu lớn như: Gạo, thủy sản, trái cây. Sự phát triển của kinh tế đem lại sự tác động phát triển xã hội. Trong giai đoạn 2020 -2023, có nhiều thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế, xã hội.
Cuốn sách: “Một số vấn đề về khoa học xã hội trong phát triển vùng Nam Bộ” – Phiên bản năm 2023 là một ấn phẩm thường niên của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ. Cuốn sách tập hợp các bài viết nghiên cứu của các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ trong từng năm. Trong cuốn sách phiên bản năm 2023 này, có tổng số trên 50 bài viết về các mảng vấn đề của khoa học xã hội trên các phương diện như: Sử học, Kinh tế học, xã hội học, Triết học và chính trị học, Văn học và Ngôn ngữ học, Môi trường và phát triển, Dân tộc – tôn giáo, Khảo cổ học,…Các nghiên cứu được đề cập và viết theo diện những nghiên cứu chuyên sâu vào từng lĩnh vực là kết quả nghiên cứu khoa học, hội thảo, các đề tài các cấp do viên chức và các nhà nghiên cứu của Việt cùng triển khai, tập hợp và xuất bản.
Xin trân trọng giới thiệu!

- Năm xuất bản: 2022
- Số trang: 244
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam “Cải cách thể chế kinh tế của Hồ Quý Ly và Lê Thánh Tông”, do Viện Kinh tế Việt Nam chủ trì và TS. Lý Hoàng Mai làm chủ nhiệm.
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, nội dung chính của cuốn sách được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Cải cách thể chế chính trị, kinh tế của Hồ Quý Ly
Chương này, nhóm tác giả mô tả, phân tích bối cảnh lịch sử dẫn đến các cuộc cải cách thể chế của Hồ Quý Ly, đồng thời nghiên cứu, phân tích các nội dung của cuộc cải cách thể chế của Hồ Quý Ly dưới góc độ thể chế chính trị và thể chế kinh tế. Nghiên cứu khẳng định, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã phần nào giải quyết tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối thời Trần. Những cải cách này có mặt tích cực và hạn chế, nhưng vai trò “mở đường” của Hồ Quý Ly trong lịch sử khi thực hiện cuộc cải cách với mong muốn xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền có sức mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế để chống giặc ngoại xâm là điều không thể phủ nhận. Sự xuất hiện những tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly cuối thể kỷ XIV đầu thế kỷ XV đã góp phần định hướng một tiến trình vận động của xã hội phong kiến Việt Nam ở những thế kỷ tiếp theo trong việc xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
Chương 2. Cải cách thể chế chính trị, kinh tế của Lê Thánh Tông
Tập trung phân tích bối cảnh lịch sử dẫn đến cải cách thể chế của Lê Thánh Tông; nghiên cứu, phân tích nội dung các cuộc cải cách thể chế của Lê Thánh Tông dưới hai góc độ thể chế chính trị và thể chế kinh tế. Về cải cách thể chế chính trị, nhóm tác giả phân tích một số nội dung: (i) Tư tưởng trị nước của lê Thánh Tông; (ii) Cải cách thể chế chính trị; (iii) Cải cách thể chế hành chính. Nghiên cứu khẳng định, cải cách hành chính dưới triều vua Lê Thánh Tông được đánh giá là tương đối toàn diện và đã mang lại sự hưng thịnh cho đất nước lúc bấy giờ, tình hình chính trị - xã hội ổn định, kinh tế đất nước phát triển. Thể chế nhà nước cũng hoàn thiện hơn các triều đại trước như: hạn chế sự lạm dụng quyền lực, hạn chế tha hóa, tham nhũng, hối lộ, lộng quyền của công thần trong giai đoạn Lê sơ, khi nhà vua còn là bậc minh quân.
Chương 3. Những tác động của các cuộc cải cách tới nền kinh tế phong kiến thế kỷ XV và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong chương này, nhóm nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của hai cuộc cải cách này tới nền kinh tế phong kiến ở thế kỷ XV trên các phương diện: sở hữu đất đai, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Đồng thời, đánh giá những kết quả của hai cuộc cải cách ở các mặt thành công và hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm trong phát triển đất nước.
Có thể nói, cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu của tập thể tác giả. Bằng cách tiếp cận đặc thù của lịch sử kinh tế, phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic, so sánh.. nhóm nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc những thông tin hữu ích, đặc biệt có giá trị về hoạt động cải cách thể chế chính trị và kinh tế của Hồ Quý Ly và Lê Thánh Tông từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XV. Hy vọng cuốn sách đáp ứng nhu cầu của độc giả quan tâm.
Xin trân trọng giới thiệu!