Báo Nhân Dân đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhân sự kiện Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Phóng viên: Xin Chủ tịch cho biết, việc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của Viện như thế nào?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Việc chuyển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng với các cơ quan truyền thông lớn như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam trở thành đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là quyết định mang tầm chiến lược của Đảng, mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của hai viện hàn lâm và các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực của quốc gia.
Về tính tập trung, thống nhất, việc các cơ quan đảm nhận hai chức năng cốt lõi là sản xuất tri thức và truyền bá tri thức được đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ là nền tảng để tạo sự kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, phân tích, dự báo, cung cấp luận cứ khoa học với hoạt động truyền tải những giá trị đó đến toàn xã hội. Trước đây, hai dòng chảy này hoạt động song song nhưng chưa có cơ chế kết nối thực sự thông suốt. Nay, sự thống nhất lãnh đạo từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư tạo dựng điều kiện để nghiên cứu và truyền thông đi cùng một nhịp, khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư có chỉ đạo, các cơ quan nghiên cứu, truyền thông đồng thời thực hiện, phối hợp, tạo sự lan tỏa ra toàn xã hội, phục vụ trực tiếp mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, điều này mở ra cơ hội rất lớn để Viện phát huy đầy đủ hơn sứ mệnh và thế mạnh khoa học của mình.
Thứ nhất, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có cơ hội trực tiếp tiếp cận các "đặt bài" nghiên cứu từ bộ tổng tham mưu chiến lược của Đảng là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tham gia nghiên cứu những vấn đề mới, hệ trọng của đất nước theo các định hướng chiến lược và hoạch định phát triển quốc gia; đồng thời trực tiếp đóng góp vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ hai, các kết quả nghiên cứu của Viện sẽ không còn phải đi qua nhiều tầng trung gian hành chính mới đến được các cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của Đảng, đây là thay đổi mang tính đột phá đối với công tác tư vấn khoa học. Khi hoạt động nghiên cứu của Viện Hàn lâm được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, khoảng cách giữa tư duy lý luận với định hướng chính trị, giữa nghiên cứu khoa học cơ bản với thực tiễn phát triển đất nước sẽ được rút ngắn đáng kể. Các luận cứ khoa học sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để nhanh chóng chuyển tới các cơ quan hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Có thể nói, đây vừa là cơ hội để Viện Hàn lâm khẳng định rõ hơn vai trò là cơ quan nghiên cứu cơ bản và tư vấn chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước, vừa là điều kiện để khoa học xã hội đóng góp trực tiếp, thiết thực hơn vào việc hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Các nhà nghiên cứu Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tìm hiểu sắc phong đình làng Hàn Lạc, xã Thuận An, Hà Nội nhằm xác định giá trị văn hóa-lịch sử của ngôi đình và sự tích của Thành hoàng được thờ tại đình. (Ảnh: THẾ ĐẠI)
Thứ ba, khi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các cơ quan truyền thông quốc gia cùng đồng hành, Viện có cơ hội xây dựng các kênh hợp tác bài bản để lan tỏa tri thức khoa học xã hội đến công chúng một cách sâu rộng hơn, chất lượng hơn. Đây chính là con đường nâng cao dân trí mà chúng tôi luôn coi là sứ mệnh quan trọng.
Thứ tư, Viện Hàn lâm sẽ có cơ hội để đổi mới toàn diện phương thức vận hành để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.
Thứ năm, Viện Hàn lâm và các nhà khoa học, nhất là những cán bộ có trình độ chuyên sâu, có các đề tài, hướng nghiên cứu sát thực với đời sống có cơ hội phản ánh trực tiếp với Trung ương về những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động, nhất là việc đề xuất các hướng nghiên cứu và tổ chức các đề tài nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu vào đời sống.
Phóng viên: Bên cạnh cơ hội mới, việc chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra những thách thức như thế nào với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Đi cùng với cơ hội là những yêu cầu và thách thức rất lớn. Khi trở thành đơn vị sự nghiệp của Trung ương Đảng, yêu cầu đối với chất lượng nghiên cứu, tư vấn chính sách, tiến độ và tính kịp thời của các sản phẩm khoa học sẽ cao hơn, trực tiếp hơn. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm phải thích ứng nhanh, kịp thời với yêu cầu của Trung ương Đảng, không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có tư duy chiến lược, tầm nhìn chính sách, bản lĩnh và khả năng phản ứng nhanh trước những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn đất nước và quốc tế. Đây là thách thức không nhỏ, đòi hỏi Viện Hàn lâm phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức, cơ chế hoạt động, phương thức nghiên cứu và đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học.
Phóng viên: Trước cơ hội và thách thức như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xác định trách nhiệm của mình như thế nào, đã và đang làm gì để hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong tình hình mới?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Chúng tôi nhận thức rất sâu sắc rằng vinh dự lớn, cơ hội lớn cũng đi kèm trách nhiệm lớn. Khi chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương, Viện Hàn lâm không thể nghiên cứu theo kiểu “tháp ngà” nữa. Chúng tôi phải thực sự trở thành think tank chiến lược, cung cấp luận cứ sắc bén, kịp thời, có tính dự báo cao cho Đảng và Nhà nước. Đó vừa là niềm tự hào, vừa là trách nhiệm mà toàn thể đội ngũ cán bộ phải tự đặt ra cho mình. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đón nhận sự chuyển đổi này với tinh thần sẵn sàng và quyết tâm cao nhất.
Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới, thời gian qua, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai rất quyết liệt chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo các nghị quyết của Trung ương, giảm đầu mối, sắp xếp lại các đơn vị theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Sau 2 đợt sắp xếp, tổ chức lại trong năm 2025, bao gồm hợp nhất, sáp nhập các đơn vị trực thuộc và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong các đơn vị, đến thời điểm hiện tại, Viện Hàn lâm đã giảm 12 đầu mối cấp vụ, viện và 47 tổ chức cấp phòng, 2 đội và 1 chi nhánh.
Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy được thực hiện trên cơ sở kế thừa, bảo đảm tính ổn định, hạn chế xáo trộn, đồng thời gắn chặt với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị. Trong thời gian tới, thực hiện chủ trương và chỉ đạo của Trung ương khi chuyển sang mô hình mới, Viện Hàn lâm sẽ nghiêm túc thực hiện, tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Chuyên gia về Làng Việt cổ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Đính và văn tự Hán cổ Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Khắc Thuân (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam): Tìm hiểu tấm bia bốn mặt niên đại Chính Hòa thứ 17 (1697) đời Lê Hy Tông tại Đình Hàn Lạc, xã Thuận An, thành phố Hà Nội.(Ảnh: THẾ ĐẠI)
Phóng viên: Dư luận của các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm trước chủ trương này như thế nào?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Các nhà khoa học thuộc Viện đón nhận chủ trương với tâm thế tin tưởng ở sự đổi mới để Viện Hàn lâm phát triển hơn, xứng tầm là cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên, cũng còn một số yêu cầu, đề nghị về việc phân bổ đề tài gắn với kinh phí cần tránh cào bằng, bãi bỏ việc thanh toán chứng từ phiền phức, đổi mới việc nghiệm thu đề tài… Chúng tôi thấy đây là những ý kiến tích cực mà Viện cần xem xét, cải tiến.
Phóng viên: Viện có đề xuất, kiến nghị gì để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thời gian tới?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Trong giai đoạn chuyển đổi này, để bảo đảm hoạt động của Viện Hàn lâm thực sự hiệu lực, hiệu quả và phát huy được vai trò, chúng tôi kiến nghị một số nội dung trọng tâm sau:
Thứ nhất, cần bảo đảm tính liên tục, ổn định trong giai đoạn chuyển tiếp. Đây là một trong những điều quan trọng nhất trong thời điểm hiện tại. Việc chuyển đổi mô hình cần được triển khai theo nguyên tắc không làm gián đoạn các chương trình, đề tài, dự án khoa học, cũng như các cam kết quốc tế mà Viện Hàn lâm đang thực hiện; đồng thời cần có hướng dẫn cụ thể về tổ chức, nhân sự, tài chính để các đơn vị trực thuộc duy trì hoạt động ổn định trong thời gian hoàn tất chuyển đổi.
Thứ hai, cần hoàn thiện thể chế và cơ chế vận hành trong mô hình mới. Việc chuyển đổi mô hình của Viện Hàn lâm không chỉ là thay đổi về mặt tổ chức, mà cốt lõi là chuyển từ cách tiếp cận “nghiên cứu hàn lâm truyền thống” sang nghiên cứu cơ bản gắn chặt với yêu cầu hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, nếu không làm rõ được vai trò này và thiết kế được cơ chế vận hành tương ứng, thì rất khó phát huy hết ý nghĩa của việc chuyển đổi. Do vậy, một trong những yêu cầu rất quan trọng đặt ra là cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của Viện Hàn lâm trong mô hình mới, bảo đảm vừa giữ được tính đặc thù của một tổ chức nghiên cứu khoa học, vừa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tư vấn chính sách trực tiếp cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Thứ ba, về cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn có những đặc thù cần tính toán, cân nhắc để xây dựng các cơ chế phù hợp, trong đó cần chú ý làm sao để tăng tính chủ động, linh hoạt trong sử dụng nguồn lực; đồng thời thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu các vấn đề lớn, có tính chiến lược, dài hạn, gắn trực tiếp với yêu cầu hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn quốc tế cho thấy, các viện hàn lâm chỉ phát huy được vai trò khi có khả năng tập trung nguồn lực cho các chương trình nghiên cứu lớn, dài hạn và liên ngành. Do đó, cần sớm hoàn thiện cơ chế đặt hàng các “bài toán lớn” của quốc gia, đồng thời đổi mới phương thức tổ chức nghiên cứu theo hướng linh hoạt, giảm dàn trải, tăng tính tích hợp và chiều sâu.
Có một nghịch lý rất đáng lo ngại: Trong khi kinh phí nhà nước đầu tư cho khoa học, công nghệ tăng, thì kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam lại giảm liên tục từ năm 2022 đến nay. Với nguồn lực như vậy, rất khó đòi hỏi nghiên cứu đột phá. Kiến nghị của chúng tôi là: Sớm phê duyệt kế hoạch tài chính trung và dài hạn cho Viện Hàn lâm, không áp dụng chính sách cắt giảm ngân sách chung. Viện Hàn lâm cần có một tỉ lệ kinh phí nhất định từ tổng đầu tư cho khoa học, công nghệ dành cho khoa học xã hội và nhân văn.
Thứ tư, về cơ chế quản lý khoa học: Mặc dù thời gian qua đã có nhiều đổi mới trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về khoa học công nghệ nhưng các quy định hành chính về tài chính, thủ tục đề tài còn nhiều điểm bất hợp lý. Nhà khoa học mất quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính thay vì tập trung nghiên cứu. Vì vậy, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục tài chính theo hướng khoán đến sản phẩm đầu ra cuối cùng. Bên cạnh đó, hiện nay các tiêu chí đánh giá khoa học chủ yếu là dành cho khoa học tự nhiên và công nghệ, rất bất cập với khoa học xã hội và nhân văn. Từ tiêu chí đánh giá đầu ra cho đến cấu trúc một bài tạp chí, và cả đến giải thưởng khoa học, đều là các tiêu chí của khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá riêng cho khoa học xã hội và nhân văn, coi trọng tác động xã hội và chất lượng hơn số lượng công bố.
Thứ năm, về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Đây là vấn đề mang tính thách thức lớn nhất. Hiện toàn Viện Hàn lâm chỉ còn 2 giáo sư, trong đó 1 giáo sư sẽ nghỉ hưu trong năm 2026 và 52 phó giáo sư, giảm nhiều lần so với 5 năm trước đây. Đội ngũ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm 3,2%, trong khi hơn 13% cán bộ sắp đến tuổi nghỉ hưu. Tình trạng chảy máu chất xám sang trường đại học và tổ chức quốc tế vẫn diễn ra vì Viện không thể cạnh tranh về đãi ngộ. Để giữ chân các nhà khoa học và bước đầu thu hút nhân tài, cần ban hành cơ chế lương và phụ cấp đặc thù theo cơ quan Đảng; bỏ quy định tỷ lệ nghiên cứu viên cao cấp không vượt quá 10%, quy định này chưa thực sự hợp lý với một cơ quan nghiên cứu đầu ngành quốc gia. Cho phép Viện Hàn lâm chủ trì đề án đào tạo nhân lực ưu tú với cơ chế nhà nước tài trợ 100% cho những người theo học các ngành đặc thù như Hán Nôm, Khảo cổ học,… những ngành đang có nguy cơ mai một thực sự.
Thứ sáu, về chuyển đổi số và hạ tầng tri thức: Một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất để các chuyên gia, nhà nghiên cứu có thể nâng cao năng lực phân tích chính sách và dự báo là dữ liệu. Do vậy, cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học xã hội quốc gia, phát triển hạ tầng thông tin-thư viện hiện đại, tăng cường nguồn lực cho công tác chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động nghiên cứu, từ thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu lớn đến hỗ trợ dự báo xu hướng và tư vấn chính sách nhằm nâng tầm chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong kỷ nguyên số.
Thứ bảy, về tổ chức hệ sinh thái nghiên cứu: Nhằm phát huy tối đa nguồn lực, đồng thời gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn phát triển và yêu cầu hoạch định chính sách, cần thiết phải hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu. Do vậy, phải tăng cường cơ chế phối hợp giữa Viện Hàn lâm với các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.
Cuối cùng, chúng tôi đề xuất tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của khoa học xã hội và nhân văn như một “hạ tầng mềm” của phát triển quốc gia, đóng vai trò cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Có thể khẳng định rằng, với mô hình tổ chức mới, với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp, sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế và nguồn lực được tháo gỡ đồng bộ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam sẽ phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm nghiên cứu hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Chủ tịch!
Ninh Cơ (nhandan.vn)
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu khảo cổ học. Với sự trợ giúp của AI, các nhà khảo cổ có thể giải thích chính xác hơn các dữ liệu thu thập, khám phá và nâng cao hiểu biết về các nền văn minh trong quá khứ.
Khai quật khảo cổ tại Hoa Lư-Ninh Bình.
Khai quật khảo cổ tại Hoa Lư-Ninh Bình.

Tuy nhiên, AI cũng đang đặt ra những khó khăn, thách thức, đòi hỏi cần sớm có những giải pháp nền tảng để trở thành một công cụ hiệu quả hơn cho các nhà khoa học.

Trong nghiên cứu khảo cổ học, các phương pháp truyền thống để khai quật và phân tích hiện vật thường gặp nhiều khó khăn, nhất là với những hiện trường có quy mô rộng lớn, những hiện vật có đặc tính dễ hư hại. Để tìm hiểu, phục dựng các di tích, cổ vật, các nhà nghiên cứu thường mất nhiều thời gian, công sức.

Trong nhiều trường hợp, cổ vật quý hiếm còn bị bỏ sót, dễ gây nhầm lẫn trong quá trình đánh giá, phân tích của nhà khoa học. Sự xuất hiện của AI với những tính năng ưu việt, vượt trội đã và đang mang tới nhiều thay đổi ngoạn mục, giúp quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá của các nhà khoa học trở nên nhanh hơn, chính xác hơn.

Trên thế giới, ứng dụng AI vào nghiên cứu khảo cổ học hiện rất phổ biến. Gần đây nhất, AI đã giúp các nhà khảo cổ học khám phá 60.000 địa điểm khảo cổ của nền văn minh Maya cổ đại chưa từng được biết đến trong khu vực rừng già phía bắc Peten, Guatemala.

Bằng công nghệ quét laser diện rộng, người ta đã phát hiện một hệ thống các cung điện, nhà cửa, đường sá, kênh tưới tiêu nông nghiệp, pháo đài phòng thủ nằm sâu dưới lòng đất có diện tích 2.100 km2. Phát hiện này quan trọng đến nỗi các nhà khảo cổ học cho rằng, có thể phải viết lại lịch sử loài người.

 

AI có khả năng xử lý dữ liệu lớn tích lũy qua nhiều thập kỷ nghiên cứu, thông qua thị giác máy tính có thể phân tích các hình ảnh để lập bản đồ chính xác các địa điểm chứa cổ vật. Các ứng dụng quét tự động mô hình 3D và thực tế ảo giúp tạo ra các bản sao kỹ thuật số chính xác, tăng khả năng tiếp cận, khám phá cho nhà khoa học.
 

 

Ảnh vệ tinh từ điểm khảo cổ trên sa mạc Saruq Al-Hadid cho thấy khu vực phía tây đang được khai quật (bên phải) và khu vực phía đông vẫn chưa được khai quật. Ảnh: Đại học Khalifa/Ben Romdhane.

Trong công tác bảo tồn, các thuật toán AI có thể xác định thiệt hại và xây dựng kế hoạch phục hồi cho các hiện vật cũng như công trình đang xuống cấp. AI giúp nhận dạng và phát hiện mẫu để làm căn cứ cho chuyên gia bảo tồn hiện vật. Các cảm biến và phân tích dữ liệu do AI cung cấp giúp phát hiện các rủi ro tiềm ẩn từ yếu tố môi trường hay tác động vật lý từ con người, khách tham quan...

Các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng đã tiếp cận và ứng dụng AI. Viện Khảo cổ học đã ứng dụng công nghệ 3D trong các đề tài nghiên cứu thời kỳ đồ đá, trong nghiên cứu nhân chủng học các mẫu hộp sọ để phân tích sự khác biệt về ngoại hình...

Trước đó, các nhà khảo cổ học đã sử dụng công nghệ LIDAR, phương pháp dùng tia laser để quét và tạo bản đồ nghiên cứu, phân tích khu vực thành Cổ Loa (Hà Nội) và phát hiện 220 mục tiêu tiềm năng theo các mức độ khác nhau. Dựa vào kết quả phân tích, các nhà nghiên cứu đã thực hiện các mũi khoan thăm dò, rãnh kiểm tra, phát hiện được than củi cháy, một số mảnh ngói Cổ Loa, thu thập bằng chứng về ba ngôi mộ cổ. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà khảo cổ học nghiên cứu, giải thích, phân tích về cấu trúc của thành Cổ Loa.
031-toan-canh-den-thuong-2.jpg Thành Cổ Loa (Ảnh: thanhcoloa.vn)

Tuy nhiên, AI đang đặt ra nhiều thách thức với các nhà khoa học. Tại Hội thảo “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI): Cơ hội và thách thức đối với nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tiến sĩ Hà Văn Cẩn (Viện Khảo cổ học) cho rằng: “Việc xử lý và huấn luyện AI trên dữ liệu khảo cổ dạng 3D vẫn rất khó khăn và đòi hỏi nhiều tài nguyên.

Trong khi đó, các dự án khảo cổ học thường không có đủ kinh phí để đầu tư vào hạ tầng công nghệ mạnh. Các nhà khảo cổ học hiện nay phải đối mặt với những thách thức lớn về khả năng xử lý dữ liệu, tính minh bạch, chi phí công nghệ, yêu cầu nguồn nhân lực có kỹ thuật để tận dụng tối đa ứng dụng của AI”.

Khảo cổ học là một ngành khoa học mang tính liên ngành cao, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về bối cảnh văn hóa, lịch sử và xã hội. Đây là những yếu tố mà công nghệ, máy móc dù có hiện đại đến đâu cũng rất khó để thay thế. Các chuyên gia lo ngại về tính minh bạch, sự thiên kiến thuộc về phạm trù đạo đức khi sử dụng AI vào xử lý dữ liệu, nghiên cứu khảo cổ học.

 

Những yếu tố này cần phải được xem xét để đề xuất những giải pháp mang tính nền tảng, định hướng cho việc sử dụng AI trong nghiên cứu khảo cổ học một cách có trách nhiệm và bền vững. AI cần được xem như một công cụ bổ trợ đắc lực để các nhà chuyên môn nâng cao hiệu quả nghiên cứu, không thể thay thế vai trò của nhà khoa học trong lĩnh vực phức tạp như khảo cổ học.

Vũ Quỳnh (nhandan.vn)

- Tác giả: Hoàng Đạo Kính
- Nxb: Văn hóa dân tộc-2023
- Số trang: 196tr
- Khổ sách: 20,5x23cm
- Hình thức bìa: mềm
 
Bảo tồn di sản văn hóa trong đó có di tích là một lĩnh vực đa dạng thức và khá phức tạp. Từ tâm thức của cộng đồng , những quan niệm về di sản văn hóa, di tích và cách thụ hưởng, gìn giữ hay lưu truyền chúng luôn rất là khác nhau. Với tư cách là một khoa học chuyên ngành, bảo tồn di tích, di sản văn hóa chưa bao giờ định hình những phương thức cố định hay những quan điểm nhất quán, bao trùm. Vì vậy trong lĩnh vực bảo tồn, người ta thường đưa ra những “triết lý’ hơn là những “chuẩn mực”. Từ một “triết lý khả tín, khi vận dụng vào những đối tượng nhất định, trong một hoàn cảnh cụ thể, cách hành xử là khác nhau và từ đó “chuẩn mực” cũng khác nhau.
Cuốn sách này tập hợp các bài viết về bảo tồn di tích, di sản văn hóa của Giáo sư Hoàng Đạo Kính theo những năm tháng của hành trình nghề nghiệp, như những bước đi của một sứ mệnh lớn lao, mở lối và góp sức cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của nước nhà.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
- Tác giả: Carol Davidson Cragoe, Nguyễn Công Hiệp dịch
Nxb: Dân Trí
- Số trang: 257tr
- Khổ sách: 16x19cm
- Hình thức bìa: mềm
 
Phần lớn chúng ta đi qua hàng trăm công trình kiến trúc mỗi ngày, thật dễ dàng nhận ra trong đó có những công trình khác biệt hay đặc biệt. Nhưng chúng khác nhau như thế nào ? chúng được xây dựng khi nào và tại sao ? Cuốn sách này sẽ giúp bạn tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó và cung cấp cho bạn những kỹ năng cần thiết để hiểu được công trình kiến trúc. Bằng việc sử dụng các hình khắc chi tiết minh họa toàn bộ công trình và từng phần riêng biệt, bạn sẽ đọc được cách nhận diện các đặc trưng cơ bản của những cấu trúc đến từ mọi niên đại và thời kỳ, từ Hy Lạp cổ đại xuyên suốt tới ngày nay.
Ba khía cạnh chính cấu thành ngữ pháp của ngôn ngữ kiến trúc là: các phong cách theo thời kỳ, các loại công trình khác nhau và các vật liệu cấu thành: cả ba điều này ảnh hưởng lớn đến việc công trình trông như thế nào.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
- Tác giả: Lê Duy Đại
- Nxb: KHXH - 2021
- Số trang: 771tr
- Khổ sách: 14,5x20,5cm
- Hình thức bìa: mềm

Nội dung cuốn sách gồm 3 phần và các chương như sau:
Phần 1: Khái quát về tự nhiên và dân cư
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên
Chương 2: Đặc điểm dân cư, dân số
Phần 2: Định cư trên bờ
Chương 3: Quá trình thực hiện việc định cư trên bờ
Chương 4: Định cư trên bờ - vấn đề đặt ra hiện nay
Phần 3: Văn hóa cư dân mặt nước – truyền thống và biến đổi sau khi lên bờ định cư
Chương 5: Văn hóa mưu sinh
Chương 6: Văn hóa vật chất
Chương 7: Văn hóa ứng xử
Chương 8: Văn hóa tinh thần
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
- Nhóm Tác giả: Tản mạn kiến trúc
- Nxb: Thế Giới-2023
- Số trang: 286tr
- Khổ sách: 14,5x20,5cm
- Hình thức bìa: mềm

Cuốn sách Tản mạn kiến trúc Nam Bộ mang đến một hình dung tổng thể về lịch sử kiến trúc dân dụng miền Nam từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20, đồng thời cung cấp những tri thức cơ bản làm hành trang khám phá các công trình kiến trúc. Không chỉ vậy, cuốn sách còn hé cánh cửa dẫn bạn đọc vào bên trong các công trình, để cùng lắng nghe những câu chuyện về lịch sử xây dựng, về tập quán, văn hóa của địa phương, và về cả những ước mơ, khát vọng của gia chủ in dấu trên từng đường nét của ngôi nhà. Với vốn tư liệu phong phú, cách diễn giải giàu tính kể chuyện, cùng những hình ảnh, bản vẽ được đầu tư kỳ lưỡng, cuốn sách chắc hẳn sẽ khơi gợi sự quan tâm và hiểu biết của cộng đồng về vốn di sản kiến trúc nước nhà
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương:
Chương 1: Tiến trình kiến trúc miền Nam
Chương 2: Kiến trúc nhà gỗ truyền thống
Chương 3: Kiến trúc nhà chịu ảnh hưởng phương Tây
Và phần kết: Sơ khảo về trang trí truyền thống
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
Ngày 5/3, tại Hà Nội, Viện Khảo cổ học đã tổ chức lễ mít tinh kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và ra mắt Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Viện Khảo cổ học. Tham dự buổi lễ có lãnh đạo Viện cùng đông đảo cán bộ, viên chức và người lao động của Viện. Phát biểu tại buổi mít tinh, lãnh đạo Viện đã ôn lại ý nghĩa lịch sử của Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, đồng thời ghi nhận, biểu dương những đóng góp quan trọng của đội ngũ nữ cán bộ trong hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý và các công tác chuyên môn của Viện. Tại chương trình, Viện Khảo cổ học đã công bố quyết định thành lập và ra mắt Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ. Việc thành lập Ban nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện để nữ cán bộ phát huy năng lực, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Viện. Buổi lễ diễn ra trong không khí trang trọng, ấm áp và ý nghĩa.
- Tác giả: Kim Quang Minh, Trịnh Anh Cơ
- Nxb: Hà Nội-2024
- Số trang: 184tr
- Khổ sách: 20,5x23cm
- Hình thức bìa: mềm
"Địa danh và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam" của hai tác giả Kim Quang Minh và Trịnh Anh Cơ là một tác phẩm góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc dựa trên cơ sở khoa học về địa danh học. Nội dung cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về địa danh cũng như những câu chuyện về địa danh của Việt Nam, tạo nên nền tảng nhận thức đổi với địa danh giúp thực hiện việc chuẩn hóa địa danh ở nước ta.
Cuốn sách phân tích mối quan hệ mật thiết giữa địa danh và chủ quyền lãnh thổ. Địa danh, không chỉ đơn thuần là những tên gọi để phân biệt các vùng đất, mà còn là những "cột mốc" lịch sử, văn hóa, ghi dấu quá trình khai phá, định cư, và xác lập chủ quyền của cha ông ta qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Mỗi địa danh đều ẩn chứa trong mình những câu chuyện lịch sử, những giá trị văn hóa, phản ánh quá trình đấu tranh bảo vệ và khẳng định chủ quyền của dân tộc.
Tác giả phân tích các địa danh vùng biển, đảo. Hai tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, các địa danh như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo... đã xuất hiện từ rất sớm trong thư tịch cổ, trong các tác phẩm văn học, trong kho tàng ca dao, tục ngữ, và trong tâm thức dân gian của người Việt. Điều đó khẳng định chủ quyền lâu đời, liên tục và không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các vùng biển, đảo này.
Bên cạnh đó, cuốn sách cũng dành nhiều trang viết để phân tích các địa danh trên đất liền, đặc biệt là các địa danh ở khu vực biên giới. Thông qua việc khảo cứu nguồn gốc, ý nghĩa của các địa danh, hai tác giả đã góp phần làm rõ quá trình hình thành đường biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên đất liền.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
- Tác giả: Nguyễn Ngọc Quý, Lâm Thị Mỹ Dung, Nguyễn Tiến Đà
- Nxb: KHXH- 2025
- Số trang: 255tr
- Khổ sách: 24 x 22cm
- Hình thức bìa: mềm
 
Trong hơn 50 năm qua, đã có 11 cuộc khai quật khảo cổ học được tiến hành tại di tích Vườn Chuối. Đặc biệt, cuộc khai quật quy mô lớn năm 2024 – 2025 trên diện tích 6000 m2 triển khai tại một nửa phía tây di tích, được đánh giá là cuộc khai quật lớn nhất đối với một di tích thuộc thời đại kim khí ở Việt Nam. Kết quả đã mang lại nhiều tư liệu quý lần đầu tiên được công bố, góp phần cung cấp những nhận thức toàn diện về một ngôi làng cổ của người Việt hình thành, phát triển liên tục vùng đất Thăng Long  - Hà Nội.
Giá trị của di tích khảo cổ học Vườn Chuối càng được nâng tầm khi các nhà khảo cổ trong quá trình khai quật đã làm sáng tỏ những công xưởng chế tác đồ đá ngọc, đồ gỗ, dấu tích kiến trúc nhà dài đến khu mộ địa phát triển liên tục qua các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn và Hậu Đông Sơn. Đây là những bằng chứng tiêu biểu của nền văn minh việt cổ có nguồn gốc bản địa, đồng thời là minh chứng vững chắc cho thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
- Tác giả: Lại Văn Tới, Nguyễn Thị Thao Giang
- Nxb: KHXH - 2025
- Số trang: 531tr
- Khổ sách: 16x24cm
- Hình thức bìa: mềm
Di chỉ Đình Tràng mang tên thôn Đình Tràng, phân bố trên một gò đất cao bên cạnh dòng Hoàng Giang cổ,  nằm liền kề phía đông bắc thành Cổ Loa – kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời An Dương Vương. Di tích được phát hiện năm 1969, đến nay đã được đào thám sát và khai quật với diện tích gần 800m2. Tầng văn hóa di chỉ dày trên dưới 2m, lưu giữ được dấu tích của 4 lớp văn hóa phát triển liên tục, từ Phùng Nguyên – Đồng Đậu - Gò Mun đến Đông Sơn
Nội dung cuốn sách gồm 4 chương:
 1/ĐìnhTràng – lịch sử một vùng đất,
 2/ Khám phá lòng đất Đình Tràng,
3/ Văn hóa vật chất và đời sống của cư dân Đình Tràng,
 4/ Đình Tràng trong không gian và thời gian của nền văn minh sông Hồng.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung

Trang


61 Phan Chu Trinh, P. Cửa Nam, TP. Hà Nội

+8424 38255449
Copyright © 2016 by khaocohoc.gov.vn.
Thiết kế bởi VINNO
Tổng số lượt truy cập: 10832657
Số người đang online: 24